banner

Câu Hỏi Thường Gặp Về Nuôi Tôm Sú (Phần 2)

Ngày: (17-12-2015 - 11:51 PM) - Lượt xem: 13384

Tiếp theo phần 1

8/ Trong quá trình nuôi, gặp trời mưa, pH giảm thấp cần làm gì ?

Trước khi trời mưa, cần bón vôi nung (CaO) bờ ao liều lượng 20kg/1000m2, bón Ca(OH)2 20 kg/1000 m3 nước ao. Sau mưa rút nước tầng mặt ao. Sau đó bón vôi CaCO3 hoặc Dolomite 15-20 kg /lần để ổn định lại pH và độ kiềm. Bón liên tục 2-3 ngày kết hợp quạt khí cho đến khi pH và độ kiềm ổn định. Có thể bổ xung đường cát để giúp tảo phát triển trở lại, lượng bón 0.5-1 kg/1000m3. Giải pháp tốt nhất để quản lý pH là cải tạo ao thật kỹ, bón vôi định kỳ. Quản lý thật tốt màu nước và có ao chứa để xử lý khi pH biến động.

9/ Quản lý Độ mặn (S‰) trong ao nuôi như thế nào cho tốt ?

Mức qui định phù hợp độ mặn khoảng 10-30‰, tôm sú phát triển tốt nhất ở độ mặn 15-25‰. Biến động trong ngày không quá 5‰. Một nguyên tắc quan trọng trong nghề tôm sú là giảm dần độ mặn và tăng dần độ sâu của nước trong quá trình nuôi. Đầu vụ độ mặn cao, tôm ít nhiễm bệnh, tỷ lệ sống cao. Cuối vụ độ mặn thấp, tôm mau lột xác chóng đạt cỡ thương phẩm và tránh bệnh đóng rong. Độ mặn quá thấp, tôm dễ bị các bệnh mềm vỏ, chất lượng thịt kém (không chắc) và khả năng đề kháng, phòng bệnh kém. Trước khi thả tôm phải kiểm tra độ mặn, nếu độ mặn < 5‰ cần thuần hoá độ mặn từ trại giống và ao ương. Nếu độ mặn thấp hơn 5‰, nên cho Vitamine C-Mix, khoáng chất (Mutagen) và vaccine (Becta-min) nhất là khi tôm trong giai đoạn tuổi 45 ngày trở lên. Trước khi thả tôm nên ngâm với Macroguard tối thiểu 30 phút sẽ sẽ chịu đựng để thích nghi tốt trong môi trường có độ mặn khác nhau. Độ mặn quá cao, tôm dễ bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn và chậm lớn (tôm khó lột xác). Độ mặn > 40‰, tôm giảm ăn, ảnh hưởng đến tăng trọng tôm sau 1.5 tháng nuôi đầu, tôm khó lột xác. Năm 2002, ao nuôi ông Đào (Xuân Lâm) và ông Hải (Diễn Kim) đã thành công nhờ có ao chứa điều tiết độ mặn trong quá trình nuôi.

10/ Quản lý Oxy hoà tan (DO) như thế nào ?

Mức qui định phù hợp > 4 mg/l, tốt nhất 5-6 mg/l. Muốn quản lý tốt ô xy buộc phải duy trì được màu nước (duy trì tảo) và sử dụng linh hoạt máy sục khí (bảng 3).

Bảng 3: Hướng dẫn sử dụng máy quạt nước:

Ngày tuổi Mục đích sử dụng
Cung cấp oxy Xử lý đáy
1-20 Trong quá trình ánh sáng thấp (trời u ám)/trong khi trời mưa/sau khi thêm nước 8-12 giờ về đêm, liên tục trong 2-3 ngày
20-40 Như trên 8-12 giờ về đêm và 1-2 giờ trước lúc cho ăn
40-80 Như trên, thêm máy quạt
80 đến lúc thu tôm Suốt ngày, trừ lức cho ăn

(Nguồn: P. Characchakool, 1999)

Hạn chế thấp nhất các chất thải lắng đọng trong nền đáy, là nguyên nhân làm giảm hàm lượng ô xy- bằng cải tạo ao thật tốt, không để thừa thức ăn, định kỳ sử dụng các chế phẩm làm sạch đáy như Zeolite, BRF2 ... Nếu oxy hoà tan (DO) thấp hơn 4 mg/l phải sục khí nhiều hơn và thay nước nếu tôm nổi đầu nhiều ngày. Kiểm tra và điều chỉnh thức ăn định kỳ, tránh dùng thức ăn tươi, bổ sung Vitamine (C-mix) và khoáng chất (Mutagen) hoặc chất kháng thể (vaccine) như Betamin khi tôm kém ăn, thời tiết thay đổi. Khi tảo quá dày, oxy hoà tan buổi sáng quá thấp và buổi chiều quá cao phải ngừng bón phân, kiểm soát lượng thức ăn cẩn thận, chạy sục khí về đêm. Với mật độ thả 1-7 con/m2 thường không cần dùng máy quạt. Với mật độ từ 8 con/m2 trở lên buộc phải dùng máy quạt nước như sau: cứ 3.000-3.500 tôm giống hoặc tổng trọng lượng tôm 100kg dùng một máy quạt nước.

11/ Độ trong và các yếu tố ảnh hưởng đến độ trong ?

Mức qui định phù hợp 30-45 cm. Độ trong quá thấp (< 20 cm), nước rất đục, có thể là do mật độ tảo quá dày (màu nước đậm đặc) hoặc là do xác tảo hoặc do phù sa lơ lửng. Nếu mật độ tảo quá dày gây hiện tượng thiếu ô xy vào sáng sớm và pH tăng cao vào buổi trưa (xem them phần pH) khi đó. Giải pháp là thay bớt 20-30% nước đã xử lý từ ao chứa để giảm mật độ tảo, sau đó bón vôi CaCO3/ hoặc Dolomite 150-300kg/ha để lắng bớt bùn và tảo, ổn định pH duy trì màu nước ổn định. Độ trong 20-30cm màu nước bắt đầu đậm đặc, nên cẩn thận không để pH buổi sáng >8.0, thay bớt nước trong ao ngưng mở máy quạt vào buổi chiều. Nếu độ trong thấp < 20cm, nước đục do phù sa lơ lửng, cần để lắng ở ao chứa koảng 1-3 ngày cho đến khi trong sạch sau đó mới bơm vào ao nuôi. Không lấy nước đục phù sa trực tiếp vào ao nuôi tôm. Nên trồng cỏ ở quanh bờ ao để giũ bờ chắc, không rò rỉ, và không bị sói lở làm đục nước ao khi trời mưa. Nếu nước ao bị đục sau khi mưa, phải bón vôi (bảng 1) để lắng tụ các chất lơ lửng và làm trong nước để tảo hoạt động trở lại. Nếu độ trong > 60cm, màu nước rất nhạt, có thể nhìn thấy đáy, nếu tôm ở giai đoạn 2, bỏ vào bao và treo trong ao. Sau đó dùng Dolomite 15-20 kg/ha vãi theo hướng cánh quạt nước cho đến khi lên màu thì dừng bón phân (xem thêm phần phương pháp gây màu hữu cơ). Quản lý tốt màu nước, theo dõi độ trong, sử dụng vi sinh và dolomite định lỳ là giải pháp tốt để duy trì độ trong từ 30 đên 45 cm.

12/ Độ sâu và quản lý độ sâu phù hợp như thế nào ?

Mức qui định phù hợp >1 m cho ao quảng canh cải tiến và > 1,2 m cho ao bán thâm canh trở lên. Độ sâu có liên quan mật thiết đến biến động nhiệt độ và màu nước trong ao. Nhiệt độ dao động sẽ làm tôm bị căng thẳng, giảm ăn và dễ nhiễm bệnh. Nước quá nông (độ sâu 1 m. Năm 2002, hầu hết các ao thất bại hoặc là do độ sâu không đảm bảo (<0.8m) hoặc là do ao có diện tích quá nhỏ (4000m2 - nuôi quảng canh). Ở Hoằng Phong và Xuân Lâm Thanh Hoá (2002), hầu hết ao đầm không đảm bảo độ sâu, các hộ đều gặp khó khăn trong quản lý màu nước, rong đáy thường xuyên xuất hiện. Một nguyên tắc quan trọng là phải tăng dần mức nước trong ao và giảm dần độ mặn trong quá trình nuôi. Thiết kế ao chứa và máy bơm để chủ động điều tiết nước trong quá trình nuôi. Muốn nuôi tôm sú thành công thì ao đầm tối thiểu phải đạt độ sâu trên 1 m nước

13/ Màu nước và quản lý màu nước phù hợp như thế nào?

Nuôi tôm là nuôi nước, muốn nuôi tôm thành công thì phải giữ được màu nước. Giữ được màu nước tức là giữ được nguồn thức ăn cho tôm và giữ được môi trường sống tốt cho tôm sinh trưởng phát triển. Nước có màu xanh đọt chuối hay màu vàng nâu là tốt nhất, duy trì độ trong 30-45 cm. Muốn duy trì màu nước thì phải duy trì được các yếu tố môi trường nước ổn định. Để làm được điều này ao đầm phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Phải có ao chứa, độ sâu đảm bảo ( >1m) và phải bón phân gây màu, sử dụng một số chế phẩm sinh học. Định kỳ quan sát màu nước và bón phân hợp lý theo 1 trong 2 phương pháp vô cơ hoặc hữu cơ.Định kỳ dùng men vi sinh BRF2, Aquabac, Bacciluss 1070 vv..để bón xuống ao, thúc dẩy vi khuẩn có lợi phát triển. Định kỳ 10 ngày bón vôi nông nghiệp (CaCO3) hoặc Dolomite, mỗi lần 10-20kg/ha sau đó có thể bổ xung đường cát 0.5-1 kg/1000m3 nước. Ở các vùng đáy cát nhiều, độ mặn cao khó gây màu nên sử dụng phương pháp gây màu hữu cơ hoặc các thuốc gây màu tảo như BOOM-D kết hợp Bio-premix. Trước khi gây màu nước cần kiểm tra các thông số như pH (7.5-8.5), độ kiềm (80-150 ppm), NH3 (<0.1mg/l), H2S (

14/ Tại sao lại gọi các khí Amonia tự do (NH3) và Hydrosulfide (H2S) là khí độc ?

Mức qui định phù hợp. < 0.1 ppm cho NH3, độc hơn khi pH cao. 2S, độc hơn khi pH thấp. NH3 và H2S tác động đến hô hấp, nếu xuất hiện dài ngày sẽ làm giảm sinh trưởng, tôm còi chậm lớn. Hầu hết các ao nuôi hàm lượng NH3 và H2S cao là do hàm lượng hữu cơ quá nhiều, không cải tạo sạch triệt để từ ban đầu hoặc trong quá trình nuôi cho ăn quá nhiều, cho ăn thức ăn tươi và thức ăn bị ẩm mốc, kém chất lượng. Kết quả là nước bị ô nhiễm, tôm kéo đàn và nhiễm bệnh. Để phòng ngừa tác hại của NH3 và H2S nên thiết kế ao chứa để chủ động nước, có máy quạt khí để xử lý khi cần.

15/ Quản lý NH3 và H2S như thế nào thì hiệu quả ?

Cải tạo ao thật tốt, loại bỏ hết chất hữu cơ (nạo vét đáy sau mỗi vụ nuôi). Ở những vùng có tầng sinh phèn tiềm tàng không nên đào ao sâu vào tầng này mà lên đắp cao bờ và xây dựng kênh tiêu phèn (rộng 40-50 cm, sâu hơn đáy 40-50cm) quanh bờ ao. Sử dụng thức ăn cho phù hợp, không dùng thức ăn tươi, thức ăn kém chất lượng. Duy trì ổn định pH, không để pH quá 7.5-8.5, nếu không NH3 và H2S sẽ gây độc cho tôm. Duy trì màu nước vì màu nước tốt sẽ giữ cho độ độc của NH3 và H2S ở mức thấp. Điều chỉnh mức ô xy hoà tan sao cho không thấp hơn 5 mg/l để vi khuẩn có thể làm việc tốt, loai bỏ các chất hữu cơ tồn dư bằng cách thêm các máy cung cấp oxy. Sử dụng định kỳ các chế phẩm hấp thụ NH3 và H2S, cải thiện nền đáy như Zeolite, BRF2, Baccillus 1070 vv..

16/ Khi NH3 và H2S trong nước quá cao, cần xử lý như thế nào ?

Khi NH3 và H2S vượt quá tiêu chuẩn bảng 1. Giải pháp đầu tiên là thay bớt 20-30% nước đã xử lý từ ao chứa. Sau đó tăng cường sục khí. Nếu không có ao chứa phải sử định kỳ sử dụng Zeolite 10-20kg/1000 m3 nước. Sau đó cấy men vi sinh BRF2, Aquabac, Bacciluss 1070, định kỳ sử dụng Zeolite, duy trì màu nước để ổn định pH.

17/ Độ kiềm là gì ?

Độ kiềm là chỉ tiêu đánh giá khả năng đệm của nước ao nuôi tôm. Hiện thị khả năng tự điều chỉnh giá trị pH của thuỷ vực trước những thay đổi của các nhân tố từ bên trong hoặc bên ngoài. Mức qui định phù hợp: Tôm mới thả : 80-100ppm (không nên thấp hơn 50ppm), từ 45 ngày tuổi trở lên: 100-130 ppm; 90 ngày tuổi trở lên: 130-160 ppm. Độ kiềm có vai trò quan trọng trong việc tạo vỏ, lột xác của tôm. Khi tôm lột xác độ kiềm giảm. Độ kiềm liên hệ mật thiết tới sự biến động của giá trị pH và sự ổn định màu nước (tảo). Trong khoảng độ kiềm thích hợp pH rất ít khi dao động quá 0.3 đơn vị/ngày. Nuôi tôm ở độ mặn thấp, độ kiềm thường xuyên thay đổi. Cần hết sức chú ý bón vôi định kỳ (chỉ bón 1 trong 2 loại CaCO3 hoặc Dolomite) để bổ sung độ kiềm cho ao.

18/ Quản lý độ kiềm trong ao như thế nào là tốt ?

Cải tạo ao thật tốt, bón vôi theo pH đất (bảng 2). Duy trì màu nước bằng bón phân định kỳ, sử dụng các chế phẩm sinh học BRF2, Aquabac, Bacciluss 1070. Bón vôi nông nghiệp (CaCO3) lượng 10-20 kg/ha hoặc Dolomite 10-15 kg/ha định kỳ 7-10 ngày/lần. Vào thời kỳ con nước, cần xử lý nước thật tốt ở ao chứa, bón vôi, gây màu tăng độ kiềm sau đó kích sang ao nuôi để tôm lột xác hoàn toàn. Trong quá trình nuôi, nếu độ kiềm thấp < 80 mg CaCO3 và: Nếu pH 3 100-200 kg/ha/lần. pH > 8: bột vỏ sò 100-200 kg/ha/lần. Làm liên tục 2-3 ngày cho đến khi độ kiềm đạt > 80 mgCaCO3/l. Năm 2002 cho thấy, ở ao ông Hồ Trình (Quỳnh Bảng), khi cải tạo ao bón CaCO3 với nồng độ cao 12 tấn/8000m2 và trong quá trình nuôi sử dụng Zeolite định kỳ (10-20 kg/ha) cho kết quả màu nước và pH rất ổn định.

19/ Chế phẩm sinh học là gì và chúng có thể thay cho các kháng sinh được không? Nên sử dụng thuốc và hoá chất như thế nào? Tại sao có nhiều loại sản phẩm không mang lại kết quả tốt dù rất đắt?

Về nguyên tắc, 2Lúa khuyến cáo tốt nhất là hạn chế thấp nhất việc sử dụng thuốc hoá chất trong quản lý môi trường ao nuôi tôm sú. Nên áp dụng các biện pháp kỹ thuật như thiết kế ao chứa lắng, độ sâu ao trên 1m, duy trì màu nước, bón vôi định kỳ vv...và sử dụng các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường. Bất đắc dĩ mới phải sử dụng hoá chất, giảm và từng bước không sử dụng hoá chất ngay trong ao nuôi.

Trong những trường hợp bất khả kháng, dự án khuyến cáo bà con chỉ nên sử dụng vôi (các loại), Formol, Zeolite, Chlorinre, BKC, đường cát, Thuốc tím (KMnO4), H2O2 đây là những chế phẩm sử dụng khá hiệu quả và không gây nhiều nguy hiểm cho tôm, môi trường và sức khỏe người sử dụng.

Bảng 4: Hướng dẫn quy đổi ký hiệu ppm khi sử dụng.

Tài liệu ghi

Hướng dẫn sử dụng

Dạng lỏng

Dạng rắn (bột)

Sử  dụng Chlorine 10 ppm

Có nghĩa là 10 ml Chlorine hoà tan trong 1 m3 nước ao nuôi tôm.

Có nghĩa là 10 mg Chlorine hoà tan trong 1 lít nước ao nuôi tôm.

Hoặc 10 lít Chlorine hoà tan trong 1000 m3 nước ao nuôi tôm.

Hoặc là 10 g Chlorine hoà tan trong 1 m3 nước ao nuôi tôm.

Hoặc 100 lít Chlorine hoà tan trong 10.000 m3 nước ao nuôi tôm (ao sâu 1 m, diện tích 1 ha).

Có nghĩa 10 kg dùng cho 1000 m3 nước ao, hay 100 kg Chlorine dùng cho 10.000 m3 (diện tích 1 ha, sâu 1 m)

Nguồn 2lua.vn

Xem thêm Quy trình sản xuất khác.

Ưu thế thuốc khử trùng nước có gốc Iodine

Ưu thế thuốc khử trùng nước có gốc Iodine

Ngày: 15-01-2016 - 08:19 PM
Hiện ở thị trường Việt Nam có rất nhiều thuốc khử trùng như Chlorin, thuốc tím, Formon, BKC, Iodine dạng thường và Iodine ở dưới dạng PVP… Trong đó, thuốc Povidone Iodine dưới dạng PVP được người...
Chi tiết >>>
Nuôi tôm theo quy trình 3 pha ở Honduras

Nuôi tôm theo quy trình 3 pha ở Honduras

Ngày: 25-10-2015 - 03:47 AM
Quy trình nuôi tôm sử dụng thức ăn tự nhiên ngày càng được áp dụng phổ biến và đã khẳng định được tính an toàn sinh học....
Chi tiết >>>
Ương nuôi tảo biển

Ương nuôi tảo biển

Ngày: 21-01-2016 - 09:36 PM
Lượng tảo tự nhiên dùng trong trại sản xuất hiện nay không đủ cung cấp cho ấu trùng và giống tôm, cá biển phát triển ở mật độ cao. Đặc biệt, trong ương nuôi ấu trùng, ngoài việc xử lý nước...
Chi tiết >>>
Kỹ thuật sử dụng trứng Atemia làm thức ăn cho ấu trùng tôm

Kỹ thuật sử dụng trứng Atemia làm thức ăn cho ấu trùng...

Ngày: 16-11-2015 - 11:00 PM
Artemia là tên khoa học của một loài giáp xác có tính rộng muối (từ vài phần ngàn đến 250‰). Chúng thường sống ở biển tự nhiên hoặc nuôi trong ruộng muối. Artemia ăn lọc không có tính chọn lựa,...
Chi tiết >>>
Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa

Quản lý sức khỏe tôm nuôi khi chuyển mùa

Ngày: 30-10-2015 - 02:31 AM
Hàng năm, vào thời điểm tháng 9 - 11 âm lịch, do chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, mưa, bão, gió mùa đông bắc nên các vùng nuôi trồng thủy sản thường bị ảnh hưởng lớn. Do vậy, khâu chăm...
Chi tiết >>>
Vai trò của cá rô phi trong ao tôm

Vai trò của cá rô phi trong ao tôm

Ngày: 24-10-2015 - 05:39 AM
Bà con nuôi tôm ở Trần Đề, Vĩnh Châu (Sóc Trăng) đang ứng dụng quy trình nuôi tôm luân canh với cá rô phi, cá chẻm, cá kèo theo hình thức tuần hoàn, khép kín, tận dụng nguồn nước nuôi cá để nuôi...
Chi tiết >>>

Tin tức

Tích cực chuẩn bị cho Vietshrimp 2016

Tích cực chuẩn bị cho Vietshrimp 2016

Đăng lúc: 14-04-2016 - 09:36 PM

Ngày 12/4/2016 tại Bạc Liêu, Hội Nghề cá Việt Nam, Tạp chí...

Một số yêu cầu kỹ thuật trại sản xuất giống TTCT

Một số yêu cầu kỹ thuật trại sản xuất giống TTCT

Đăng lúc: 23-04-2016 - 08:35 PM

Chất lượng tôm giống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,...

ĐBSCL- thủy sản tìm cách vượt khó

ĐBSCL- thủy sản tìm cách vượt khó

Đăng lúc: 27-04-2016 - 09:44 PM

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang làm suy thoái tài nguyên và...

Video

Hình ảnh công ty

gi?i thi?u nh?

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

     Việt Nam là Đất nước đựơc thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thuỷ sản. Trong đó, Huyện Ninh Hải – Tỉnh Ninh Thuận nhờ lợi thế ven biển, đã triển khai các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xu hướng phát triển của ngành tôm giống Ninh Hải cũng đi theo hướng ứng dụng công nghệ của thế giới, với mục đích chính nâng cao năng suất và chất lượng.

Không ngoài mục đích trên, công ty TNHH sản xuất giống thủy sản Nam Mỹ được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2008. Qua nhiều năm học hỏi, phấn đấu, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Nam Mỹ đã dần có chỗ đứng vững vàng trên thị trường tôm giống cả nước. Với tôn chỉ trở thành “Thương hiệu của người nuôi tôm”, công ty Nam Mỹ đã, đang và sẽ không ngừng hoàn thiện chuỗi quy trình sản xuất, luôn cải tiến và đổi mới, nhằm mang đến những con giống có “chất lượng vượt trội ”.

            Tổng quan về công ty tom giong, tôm sú giống, tôm giống thẻ :

 

"
gi?i thi?u b�n ph?i
face google yahoo skype