banner

Quy trình sản xuất tôm thẻ chân trắng

Ngày: (23-09-2015 - 12:01 PM) - Lượt xem: 28590

1. Mô tả tóm tắt công nghệ 1.1. Vệ sinh tổng thể trại - Bể xử lý nước biển: Rửa sạch phơi khô - Bể lọc: Đem hết vật liệu lọc trong bể lọc xuống, rửa sạch, phơi khô rồi sắp xếp lại cho đúng yêu cầu kỹ thuật sau đó ngâm clorin nồng độ 500 ppm ít nhất 24 giờ. Xả hết nước clorin, khử clorine còn lại bằng thiosunfat, dùng nước biển đã xử lý xả lại bể lọc sau đó đưa vào sử dụng...

1. Mô tả tóm tắt công nghệ

1.1. Vệ sinh tổng thể trại
- Bể xử lý nước biển: Rửa sạch phơi khô
- Bể lọc: Đem  hết vật liệu lọc trong bể lọc xuống, rửa sạch, phơi khô rồi sắp xếp lại cho đúng yêu cầu kỹ thuật sau đó ngâm clorin nồng độ 500 ppm  ít nhất 24 giờ. Xả hết nước clorin, khử clorine còn lại bằng thiosunfat, dùng nước biển đã xử lý xả lại bể lọc sau đó đưa vào sử dụng
- Khử trùng Bể chứa, bể nuôi ấu trùng, bể nuôi tôm mẹ và bể đẻ: 
Quét clorin toàn bộ mặt trong và ngoài các bể, các đường đi trong trại, nồng độ dung dịch clorin 500 ppm
Sau 5 ngày rửa sạch lại bằng nước ngọt, đậy kỹ bạt, chuẩn bị sản xuất.
-  Khử trùng dụng cụ sản xuất: Đưa tất cả các dụng cụ sản xuất như thau, chậu, dây dẫn khí, đá bọt, vợt vớt tôm… ngâm trong dung dịch formol 500 ppm trong 24-30 giờ, sau đó rửa sạch phơi nắng thật khô, để chuẩn bị cho sản xuất.

1.2. Xử lý nước biển để sử dụng
- Nước biển bơm vào bể chứa lắng được xử lý bằng Chlorine nồng độ 50-70 ppm, sau đó sục khí và phơi nắng khoảng 48 giờ cho hết mùi Chlorine.
- Tiếp tục dùng thuốc tím nồng độ 1 ppm để xử lý 
- Sục khí cho đến khi nước trong
- Sau khi nước trong bể chứa lắng trong suốt, tiếp tục dùng Iodin nồng độ 2 ppm để xử lý, sau khi sục khí 3 giờ, dùng máy bơm bơm nước qua bể lọc vào bể chứa trong nhà để sử dụng dần
Chú ý: Chỉ dùng chlorine và thuốc tím để xử lý nước vào lúc chiều tối
- Nếu không có bể lắng ngoài trời ta dùng thiosunfat khử lượng clorine dư (lượng thiosunfat dư còn lại trong bể nồng độ không quá 2ppm). Nước sau khi khử clorine tiến hành sục khí 48 giờ mới sử dụng được.

1.3. Nuôi vỗ tôm bố mẹ
*  Tuyển chọn tôm bố mẹ
- Chọn tôm bố mẹ có màu sắc tự nhiên, tươi sáng, không bị xây sát chấn thương. Trọng lượng tôm đực từ 40 gam đến 60 gam, tôm cái trọng lượng từ 50 gam đến 80 gam. Kích thước đồng đều.
- Tuổi tôm bố mẹ tính từ ngày Post xuất đạt từ 9 đến 12 tháng tuổi.
*  Chăm sóc tôm bố mẹ
- Tôm đực và tôm cái nuôi riêng
- Thức ăn và cách cho ăn: chủ yếu là dời sống, hàu và mực tươi. Cần thiết mới sử dụng thức ăn công nghiệp. Ngày cho ăn 4 lần trở lên. Lượng cho ăn mỗi ngày từ 15-18% trọng lượng tôm trong bể.
- Xiphon và thay nước: Nhằm đảm bảo môi trường luôn trong sạch đủ oxy, tôm ăn nhiều, phát triển tốt không sinh bệnh. Đây là việc làm hàng ngày. Lượng nước thay 80% hoặc hơn.
- Giữ nhiệt độ bể nuôi ổn định: đầu vụ nuôi vào mùa đông nhiệt độ ngoài trời thường thấp nên nâng nhiệt và giữ ổn định ở mức 29-300C. Lưu ý nhiệt độ nước dùng để thay cũng phải tương đương với nhiệt độ nước trong bể nuôi.

1.4.  Chọn tôm cái thành thục cho giao vĩ
- Tôm cái sau khi cắt mắt, nuôi vỗ tích cực khoảng 10 ngày trở lên thì chúng bắt đầu thành thục.
- Khoảng 10 giờ sáng hàng ngày sau khi siphon thay nước tiến hành chọn những con cái đã thành thục thả vào bể tôm đực để cho chúng tự giao vĩ, để kích thích và nâng cao tỉ lệ giao vĩ thì khoảng 4 giờ chiều ta nên thắp đèn chiếu sáng .

1.5.  Chuẩn bị cho tôm mẹ đẻ
-  Khoảng 20 - 23 giờ hàng ngày chọn những con tôm cái đã thành thục (đã mang túi tinh) để chuẩn bị cho đẻ. Mật độ thả tôm mẹ trong bể đẻ khoảng 4 – 5 con/m2.
- Trước khi đưa tôm mẹ vào bể đẻ cần tắm cho tôm mẹ qua Iodin (khoảng 10 giọt Iodin/thau 40lít). 
- Lưu ý khi tôm mẹ đang đẻ  nên sục khí nhỏ để tăng tỉ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở (tránh tình trạng thiếu oxy đáy bể).
- Khoảng sau 12 giờ trứng nở  ra Nauplius 1 (N1)

1.6.  Tắm và thu hoạch Nauplius
- Tắm Nauplius: Sau khi trứng nở từ 18 - 24 giờ tiến hành tắm Nauplius bằng Iodine, cho Iodine vào bể Nauplius với nồng độ 0,5-1,0 ppm, 2 giờ sau thì tiến hành thu Nauplius.
- Thu Nauplius: Trước khi thu, chuẩn bị 1 thau nước sạch khoảng 20-30 lít, dùng vợt vớt Nauplius vào thau, sau đó chuyển cho các trại nuôi.

1.7.  Chuyển Nauplius vào bể ương ấu trùng
Chuẩn bị nước để ương nuôi ấu trùng
-  Trước khi thả Nauplius ta làm như sau :
+  Mắc vòi sục khí (đá bọt) số lượng 4 - 6viên/bể 4m3, che bạt kín. 
+ Cấp nước mặn đã xử lý hóa chất qua hệ thống túi siêu lọc vào bể, mực nước trong bể ương ấu trùng cao khoảng 70-80cm.
+ Dùng EDTA để xử lý với nồng độ :10 ppm
+ Tiếp tục dùng Apac – PR, và Apac – ER: Dùng Apac – PR 1 ml/m3 trước, sau 2 tiếng cho  Apac – ER 1 g/m3. Đối với Apac – PR hoà với nước tạt đều vào bể, Apac – ER trước khi sử dụng cho 1g vào 2 lít nước sục khí mạnh sau 2 tiếng rồi mới cho vào bể. Sau  3 giờ xử lý vi sinh thì tiến hành thả Nauplius 
Tắm Nauplius trước khi thả bằng các dung dịch sau:
- Povidine 5ppm ( khoảng 5 giọt Povidine cho 1 thau 40 lít)
- Hoặc Baycox 2,5% nồng độ 2ppm ( khoảng 2 giọt Baycox 2,5% cho thau 40lít)
- Mật độ thả Nauplius : 80-120 con/l

1.8.  Quản lý và chăm sóc các giai đoạn ấu trùng
Giai đoạn Zoea: gồm 3 giai đoạn Z1; Z2;Z3
Sử dụng thức ăn công nghiệp. Trong giai đoạn này phải thường xuyên quan sát đuôi phân của ấu trùng để đánh giá sức khỏe của ấu trùng cũng như chất lượng và số lượng của thức ăn.
Giai đoạn Zoea 1: Khi Nauplius bắt đầu chuyển Zoea dùng 1 gram men TZ002, hoặc ZP25 hoặc TOP10…để đón Zoea
Thành phần và tỷ lệ các loại thức ăn trong giai đoạn Zoea 1

TT    Thành phần thức ăn                                                              Tỷ lệ (%)    Cách cho ăn
1    Tảo khô                                                                                     33%    Trộn lẫn với thức ăn tổng hợp
2    Thức ăn tổng hợp (Fripark, Lansy, Apo, Flakes xanh)                   67%    
       Cộng                                                                                        100%

Giai đoạn Zoea 2:
Cho ăn giống như  Zoea1. Thức ăn tổng hợp (Fripark, Lansy, Apo, Flakes xanh) chiếm 2/3 
Thành phần và tỷ lệ các loại thức ăn trong giai đoạn Zoea 2
TT    Thành phần thức ăn                                                             Tỷ lệ (%)    Cách cho ăn
1    Tảo khô                                                                                     33%    Trộn lẫn với thức ăn tổng hợp
2    Thức ăn tổng hợp (Fripark, Lansy, Apo, Flakes xanh)                   67%    
       Cộng                                                                                       100%

Dùng vi sinh Apac – PR, và Apac – ER: Dùng Apac – PR 1 ml/m3 trước, sau 2 tiếng cho  Apac – ER 1 g/m3. Đối với Apac – PR hoà với nước tạt đều vào bể, Apac – ER trước khi sử dụng cho 1g vào 2 lít nước sục khí mạnh trong 2 tiếng rồi mới cho vào bể.
Giai đoạn Zoea 3
Tảo khô chiếm 1/3 khẩu phần. Thức ăn tổng hợp (Fripark, Lansy, Apo, Flakes xanh) chiếm 2/3 khẩu phần. 
Thành phần và tỷ lệ các loại thức ăn trong giai đoạn Zoea 3
TT    Thành phần thức ăn                                                   Tỷ lệ (%)    Cách cho ăn
1    Tảo khô                                                                       33%    Trộn lẫn với thức ăn tổng hợp
2    Thức ăn tổng hợp (Fripark, Lansy, Apo, Flakes xanh)     67%    
      Cộng                                                                          100%

- Bổ sung thuốc bổ.
- Phòng bệnh cho Z3 : cuối Z3 siphon đáy, nếu nước xấu thay 20-30% lượng nước trong bể nuôi.
Giai đoạn Mysis: bao gồm M1; M2; M3
Thức ăn ở giai đoạn này bao gồm ấu trùng Nauplius của Artemia, thức ăn tổng hợp.
Hàng ngày siphon đáy và quan sát hoạt động của ấu trùng (chú ý đến nhiệt độ và độ mặn trong bể nuôi ).
Mysis 1: Cho ăn thức ăn tổng hợp, Flakes xanh, đỏ. Bổ sung men vi sinh (TZ002, ZP25,…) thuốc bổ (polyvitamin,…)
Mysis 2: Cho ăn tương tự như M1 nhưng không dùng Flakes xanh.
Dùng vi sinh Apac – PR, và Apac – ER  1 ppm. Cách dùng tương tự như giai đoạn chuẩn bị thả Nauplius.
Mysis 3: Cho ăn Artemia bung dù 4lần/ngày (1-2g Artemia bung dù/10 vạn ấu trùng tôm). Bổ sung:TZ002, ZP25, TOP10, Polyvitamin…
Chế độ phòng thuốc, thay nước: hàng ngày Siphon đáy và thay 30-50% lượng nước trong bể nuôi.
Các giai đoạn Post: bao gồm  P1-12
Giai đoạn này tôm ăn tạp: Ấu trùng Nauplius của Artemia, thịt nhuyễn thể, tôm, ruốc, hàu, cần điều chỉnh lượng thức ăn cho vừa đủ. Có thể tăng số lần cho ăn Artemia để tôm khỏe và  nhanh lớn.
Cứ 4 ngày dùng vi sinh Apac – PR, và Apac – ER 1 ppm 1 lần, thường xuyên quan sát màu sắc và khả năng vận động để biết được tình trạng sức khỏe của tôm. Sau    10 -15 ngày nuôi tôm có khả năng xuất bể để nuôi thương phẩm.
Post 1 – 5: Cho ăn Artemia bung dù (5-7g Artemia bung dù/10 vạn ấu trùng tôm). Thức ăn tổng hợp: Fripark 2, Flakes đỏ, N1. 
Post 6 – 15 : Cho ăn các loại thức ăn bình thường nhưng tăng thêm 20% về lượng. Cứ 2 ngày thay nước 1 lần.

1.9. Cách ấp và cho ăn artemia 
Artermia “bung dù”
- Trứng Artemia sau khi tẩy vỏ xong, cho vào xô sục khí với số lượng không quá 2 gam/1 lít nước, thời gian ấp nở là 12 giờ, sau đó thu trứng rửa sạch để cho ấu trùng tôm ăn, nên cho ấu trùng tôm ăn 4 lần/ ngày là vừa.
Artermia nở
Ấp Artemia nở như ấp Artemia “bung dù” nhưng thời gian lâu hơn, ta để cho trứng Artermia nở hoàn toàn rồi mới thu, thường trứng Artemia  được ấp từ 18 - 24 giờ, tùy thuộc vào nhiệt độ của nước. Khi trứng Artermia nở hoàn toàn ta tắt sục khí để yên trong 10 phút cho vỏ trứng nổi lên mặt nước, sau đó dùng ống hút tầng giữa để thu Artermia con vào vợt, sau đó rửa sạch và cho post ăn.
Lưu ý là Artermia sau khi nở để càng lâu thì chất lượng Artermia càng giảm, do đó cho tôm ăn Artermia sau khi nở càng sớm càng tốt.

1.10. Cách xi phon và vệ sinh bể 
- Dùng ống xiphon, xiphon thức ăn thừa, chất thải của tôm ở đáy bể ra thau, trong quá trình xiphon một số ấu trùng tôm theo ống xiphon ra ngoài vì vậy phải dùng vợt vớt số ấu trùng theo ra thau cho lại vào bể .
- Rút bớt nước trong bể theo định mức, sau đó dùng khăn lau sạch thành bể, dây khí, đá bọt bằng dung dịch formol 500 ppm, cấp nước đã xử lý đủ theo định mức
Sau khi xiphon và thay nước xong, dùng nước ngọt rửa sạch và lau khô đường đi, nền trại

1.11. Thu hoạch post, đong đếm và vận chuyển
Đong đếm
Khi đến P10 – P15 ta tiến hành xuất tôm cho khách hàng. Rút cạn nước còn 30 cm rồi dùng vợt vớt post ra thau có sục khí. Sau đó ta tiến hành đếm số lượng tôm post vào cốc đong mẫu, dùng cốc đong mẫu đong tôm xuất bán cho khách hàng.
Đóng túi vận chuyển
Sau khi đong xong, cho tôm vào túi nilon với mật độ từ 1.000 con đến 2.000 con trong một lít nước. Sau đó bơm căng bao nilon đã có bao bảo vệ bằng oxy để vận chuyển. Tuỳ vào cự ly xa gần mà tính mật độ tôm cho phù hợp, nên hạ nhiệt độ trong quá trình vận chuyển xuống còn khoảng 20-22 oC để bảo đảm tỷ lệ sống của tôm cao nhất.

2. Phương thức chuyển giao
- Chuyển giao kỹ thuật;
- Tập huấn kỹ thuật;
- Xây dụng mô hình.

                                                                                         Tác giả: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang

Quản lý bùn đáy trong ao tôm

Quản lý bùn đáy trong ao tôm

Ngày: 19-10-2015 - 12:02 AM
Bùn đáy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm ao tôm và là nơi phát sinh mầm bệnh. Quản lý tốt bùn đáy sẽ góp phần quan trọng phòng tránh rủi ro và nâng cao năng suất tôm nuôi...
Chi tiết >>>
Bệnh đốm trắng

Bệnh đốm trắng

Ngày: 23-09-2015 - 11:58 AM
Xuất hiện ở khắp các giai đoạn nuôi của tôm, tập trung nhiều nhất ở tôm từ 1 tháng tuổi trở lên. Vỏ tôm ở phần đầu ngực có các đốm trắng tròn và sau đó lan ra toàn thân. Tôm bệnh toàn thân...
Chi tiết >>>
Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Nhu cầu Lipid của tôm thẻ chân trắng

Ngày: 13-10-2015 - 11:04 PM
Phospholipid và cholesterol là hai chất béo thiết yếu cho tôm he (penaeid - bao gồm tôm thẻ chân trắng và tôm sú). Mặc dù, tôm thẻ chân trắng góp phần quan trọng trong ngành công nghiệp nuôi tôm, nhưng các thông...
Chi tiết >>>
Một số biện pháp xử lý nước phục vụ cho trại tôm giống

Một số biện pháp xử lý nước phục vụ cho trại tôm g...

Ngày: 28-11-2015 - 10:13 PM
Nước biển có độ khoáng rất cao, thường vào khoảng 35g/l. Nồng độ muối trong nước biển lớn hơn trong nước ngọt 2.000 lần. Độ khoáng hóa nước biển hoàn toàn phụ thuộc vào lượng các ion chủ yếu...
Chi tiết >>>
Kỹ thuật nuôi tôm nước lợ luân canh với trồng lúa

Kỹ thuật nuôi tôm nước lợ luân canh với trồng lúa

Ngày: 07-12-2015 - 10:00 PM
Mô hình tôm nước lợ - lúa luân canh là mô hình canh tác một vụ tôm nước lợ và một vụ lúa trên đất trồng lúa. Mô hình này phát triển từ năm 1990 đến nay, mặc dù nó là mô hình truyền thống của...
Chi tiết >>>

Tin tức

Tích cực chuẩn bị cho Vietshrimp 2016

Tích cực chuẩn bị cho Vietshrimp 2016

Đăng lúc: 14-04-2016 - 09:36 PM

Ngày 12/4/2016 tại Bạc Liêu, Hội Nghề cá Việt Nam, Tạp chí...

Một số yêu cầu kỹ thuật trại sản xuất giống TTCT

Một số yêu cầu kỹ thuật trại sản xuất giống TTCT

Đăng lúc: 23-04-2016 - 08:35 PM

Chất lượng tôm giống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,...

ĐBSCL- thủy sản tìm cách vượt khó

ĐBSCL- thủy sản tìm cách vượt khó

Đăng lúc: 27-04-2016 - 09:44 PM

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang làm suy thoái tài nguyên và...

Video

Hình ảnh công ty

gi?i thi?u nh?

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

     Việt Nam là Đất nước đựơc thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thuỷ sản. Trong đó, Huyện Ninh Hải – Tỉnh Ninh Thuận nhờ lợi thế ven biển, đã triển khai các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xu hướng phát triển của ngành tôm giống Ninh Hải cũng đi theo hướng ứng dụng công nghệ của thế giới, với mục đích chính nâng cao năng suất và chất lượng.

Không ngoài mục đích trên, công ty TNHH sản xuất giống thủy sản Nam Mỹ được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2008. Qua nhiều năm học hỏi, phấn đấu, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, Nam Mỹ đã dần có chỗ đứng vững vàng trên thị trường tôm giống cả nước. Với tôn chỉ trở thành “Thương hiệu của người nuôi tôm”, công ty Nam Mỹ đã, đang và sẽ không ngừng hoàn thiện chuỗi quy trình sản xuất, luôn cải tiến và đổi mới, nhằm mang đến những con giống có “chất lượng vượt trội ”.

            Tổng quan về công ty tom giong, tôm sú giống, tôm giống thẻ :

 

"
gi?i thi?u b�n ph?i
face google yahoo skype